Nguyên bản:
sin đi học (sin= đối : huyền)
cos không hư (cos = kề: huyền)
tan đoàn kết (tan = đối : kề)
côtang kết đoàn (cotg = kề : đối)
Version 2:
sin đi học (sin= đối : huyền)
cos khóc hoài (cos = kề: huyền)
thôi đừng khóc (tan = đối : kề)
có kẹo đây (cotg = kề : đối)
Các trường hợp bằng nhau: cos đối sin bù phụ chéo, khác pi (của tan và cotan)
Cos đối, sin bù, phụ chéo: Cái này dành cho bạn nhớ giá trị các góc (cung) có liên quan đặc biệt: cosin của hai góc đối bằng nhau; sin của hai góc bù nhau thì bằng nhau; sin và cosin của hai góc phụ nhau thì bằng nhau -->Từ đây suy ra tan và cos.
Công thức cộng
* cos +cos =2 cos cos
(cosa + cosb = 2cos((a+b)/2)cos(a-b)/2)
* cos - cos = 2 sin sin
*sin + sin = 2 sin cos
*sin - sin = 2 cos sin
cos cộng cos bằng hai cos cos
cos trừ cos bằng trừ hai sin sin
Sin cộng sin bằng hai sin cos
sin trừ sin bằng hai cos sin
Tan mình cộng với tan ta, bằng sin 2 đứa trên cos ta cos mình....
Hoặc:tanx + tany thìtình mình cộng lại tình ta, sinh ra hai đứa con mình con ta
tanx - tan y: tình mình hiệu với tình ta sinh ra hiệu chúng, con ta con mình
Cách nhớ hàm sin và cos nhân 3 (sin3x, cos3x)
Nhân ba một góc bất kỳ, sin thì ba bốn, cos thì bốn ba, dấu trừ đặt giữa hai ta, lập phương chỗ bốn, thế là ok.
Biến đổi tổng thành tích:
sin tổng lập tổng sin cô
cô tổng lập hiệu đôi cô đôi chàng
còn tan tử cộng đôi tan (hoặc là: tan tổng lập tổng hai tan)
một trừ tan tích mẫu mang thương sầu * tan(a+b)=(tan+tanb)/1-tana.tanb
gặp hiệu ta chớ lo âu,
đổi trừ thành cộng ghi sâu vào lòng"
một bài thơ về cách nhớ công thức: tan(a+b)=(tan+tanb)/1-tana.tanb
tan một tổng hai tầng cao rộng
trên thượng tầng tan cộng tan tan
dưới hạ tầng số 1 ngang tàng
dám trừ một tích tan tan oai hùng
Mấy câu về hình học:
Muốn tính diện tích hình thang
Đáy lớn, đáy bé ta mang cộng vào
Rồi đem nhân với đường cao
Chia đôi kết quả thế nào cũng ra.
Version 2 như sau:
Muốn tính diện tích Việt Nam
Ta đem Trung Quốc, Thái Lan cộng vào
Rồi đem nhân với nước Lào
Campuchia phát thế nào cũng ra...
Muốn tìm diện tích hình vuông,
Cạnh nhân với cạnh ta thường chẳng sai
Chu vi ta đã học bài,
Cạnh nhân với bốn có sai bao giờ.
Muốn tìm diện tích hình tròn,
Pi nhân bán kính, bình phương sẽ thành.
Nguyên tắc để 2 tam giác bằng nhau
Con gà con, gân cổ gáy, cúc cù cu
(cạnh góc cạnh, góc cạnh góc, cạnh cạnh cạnh)
Chuyên cung cấp thông tin công nghệ, cập nhật các công nghệ mới, thủ thuật, tin học văn phòng, ứng dụng, phần mềm, bảo mật, internet,...
Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011
Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011
Đề thi Học sinh giỏi Quốc gia 2011 môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tin, Văn, Sử, Địa, Tiếng Anh
Bộ đề thi Học sinh giỏi Quốc gia 2011 môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tin, Văn, Sử, Địa, Tiếng Anh không có đáp án (Riêng môn Toán, đáp án đã được giới thiệu ở bài viết trước) . Đây là tuyển tập từ các bản chính của các đề thi HSG vừa diễn ra vào giữa tháng 1 vừa rồi.
De thi Hoc sinh gioi quoc gia 2011 tat ca cac mon Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tin, Văn, Sử, Địa, Tiếng Anh
Tải file PDF (scan): De thi Hoc sinh gioi quoc gia 2011 tat ca cac mon
Bất đẳng thức đưa về một biến
Bất đẳng thức và Cực trị thường gây ra không ít khó khăn cho thí sinh trong kì thi tuyển sinh ĐH - CĐ. Vì vậy với mong muốn giúp cho các em học sinh có một kì thi với kết quả cao nhất, VNtoanhoc giới thiệu kĩ thuật quen thuộc trong chứng minh BĐT , đó là phương pháp "đưa về một biến".
Người biên soạn : Nguyễn Tất Thu.
Bat dang thuc dua ve mot bien: Download
Người biên soạn : Nguyễn Tất Thu.
Bat dang thuc dua ve mot bien: Download
Đề thi Học sinh giỏi Quốc gia 2011 môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tin, Văn, Sử, Địa, Tiếng Anh
Bộ đề thi Học sinh giỏi Quốc gia 2011 môn Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tin, Văn, Sử, Địa, Tiếng Anh không có đáp án (Riêng môn Toán, đáp án đã được giới thiệu ở bài viết trước) . Đây là tuyển tập từ các bản chính của các đề thi HSG vừa diễn ra vào giữa tháng 1 vừa rồi.
De thi Hoc sinh gioi quoc gia 2011 tat ca cac mon Toán, Lý, Hóa, Sinh, Tin, Văn, Sử, Địa, Tiếng Anh
Tải file PDF (scan): De thi Hoc sinh gioi quoc gia 2011 tat ca cac mon
Toán thơ và thơ toán trong dân gian
Có những người không thích Toán cho mấy, nên đã phán rằng Toán Học là khô khan, vì những đẳng thức, phương trình gồm toàn những ký hiệu cộng trừ nhân chia..., thậm chí có cả những ký hiệu " , $..., cùng những số và chữ cái a, b, c, x, y, z, a , b , d , e , l , m ...; ngoài ra có những danh từ kỹ thuật, nếu không học Toán, thì không biết đến, như " Nhóm ", " Vòng " " Thân ", " Không gian vectơ ", " Độc lập tuyến tính "... Có lẽ vì vậy mà những người yêu Toán lại đặt ra những bài thơ nhí nhảnh để giới thiệu những bài toán vui, hay để tỏ con tim của họ cũng rung động " không biết mấy chu kỳ " trước một sắc đẹp, trước một bài văn hay, trước một câu thơ tuyệt tác...
Những bài Toán Thơ, Thơ Toán trong dân gian và những tác phẩm của những người yêu Toán đã chứng minh điều đó.
Thơ Toán trong dân gian, cũng như Ca Dao, Tục Ngữ là những bài, những câu thơ tuyệt tác, khó mà trau chuốt lại được, nếu không muốn mất đi tính chất bình dân và độc đáo của chúng. Cũng như Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Toán Bình Dân đã trải qua thời gian, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác; đã trải qua không gian, từ miền nầy qua miền khác, nên đã được dân gian sửa chữa để biến thành kiệt tác bất hủ mà truyền lại cho đời sau. Vì vậy Thơ Toán cũng như Ca Dao, Tục Ngữ không có tác giả, mà tác giả là toàn thể đại chúng của các thế hệ trước.
Chúng ta hãy nghe một câu Đố Ca Dao :
Chúng ta tiếp tục với những bài Thơ Toán Dân Gian tinh nghịch, trào lộng và đôi khi cả trử tình...
Một câu Ca Dao nói một chàng trai tỏ tình. Lời rất bâng quơ, hư hư thực thực
Một câu Đố Ca Dao :
Hay bài giai thoại " Điểm Binh của Tôn Tử " :
Ở trên mạng internet có rất nhiều, như :
Những bài Toán Thơ, Thơ Toán trong dân gian và những tác phẩm của những người yêu Toán đã chứng minh điều đó.
Thơ Toán trong dân gian, cũng như Ca Dao, Tục Ngữ là những bài, những câu thơ tuyệt tác, khó mà trau chuốt lại được, nếu không muốn mất đi tính chất bình dân và độc đáo của chúng. Cũng như Ca Dao, Tục Ngữ, Thơ Toán Bình Dân đã trải qua thời gian, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác; đã trải qua không gian, từ miền nầy qua miền khác, nên đã được dân gian sửa chữa để biến thành kiệt tác bất hủ mà truyền lại cho đời sau. Vì vậy Thơ Toán cũng như Ca Dao, Tục Ngữ không có tác giả, mà tác giả là toàn thể đại chúng của các thế hệ trước.
Chúng ta hãy nghe một câu Đố Ca Dao :
Mặt em phương tượng chữ điền,Và một bài thơ Toán Dân Gian, cũng là một câu Đố Ca Dao nhí nhảnh :
Da em thì trắng, áo đen mặc ngoài.
Lòng em có đất, có trời,
Có câu nhân nghĩa, có lời hiếu trung.
Dù khi quân tử có dùng,
Thì em sẽ ngỏ tấm lòng cho xem. Tục Ngữ - Phong Dao. Nguyễn Văn Ngọc. (Mặc Lâm. Yiễm Yiễm Thư Quán. Sàigòn 1967)
(Đáp : Cuốn Sách).
Yêu nhau cau sáu bổ ba,Trong bài viết nầy, tôi chỉ cho đáp số, mà không cho lời giải, cách giải, vì thấy nó vô duyên, không hợp với đề tài chính là Thơ Toán trong Dân Gian.
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
Mỗi người một miếng trăm người,
Có mười bảy quả hỏi người ghét yêu. Nguyễn Trọng Báu - (Giai thoại chữ và nghĩa)
(Ý bài toán : Có tất cả 17 quả cau được chia ra làm hai phần. Mỗi quả trong phần thứ nhất được bổ ra làm 3 miếng. Mỗi quả trong phần thứ hai được bổ ra làm 10 miếng. Có tất cả 100 người, mỗi người chỉ ăn một miếng. Hỏi có mấy người ăn được cau bổ ba, mấy người ăn được cau bổ mười.)
(Đáp : 30 người ăn cau bổ ba, 70 người ăn cau bổ mười).
Chúng ta tiếp tục với những bài Thơ Toán Dân Gian tinh nghịch, trào lộng và đôi khi cả trử tình...
Một câu Ca Dao nói một chàng trai tỏ tình. Lời rất bâng quơ, hư hư thực thực
Đường đi thì thật là xa,Nếu cô nàng ưng ý, thì e lệ thưa :
Mượn mình làm mối cho ta một người.
Một người mười tám đôi mươi,
Một người vừa đẹp, vừa tươi như mình...
Anh đà có vợ con chưa ?Nhưng nếu cô nàng không vừa ý, thì đanh đá, giễu cợt để tỏ khéo sự từ chối của mình :
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào.
Mẹ già anh ở nơi nao ?
Để em tìm vào hầu hạ thay anh.
Chẳng tham nhà ngói rung rinh,
Tham về một nỗi anh xinh miệng cười.
Miệng cười anh đáng mấy mươi,
Chân đi đáng nén, miệng cười đáng trăm...
Bao giờ cho chuối có cành,Cho sung có nụ, cho hành có hoa (1).Hay cô nàng có thể cắc cớ, ra một bài Thơ Toán :
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa,
Sáo đẻ dưới nước thì ta theo mình... Văn Học Việt Nam. Phạm Văn Diêu. (Tân Việt Sàigòn 1960).
(1) Thật ra, cây hành để già thì có hoa.
Em là con gái nhà nghèo,
Mẹ cha chết hết, nằm queo một mình.
Nhà em vách lá lợp mành,
Trời mưa nhà dột, ướt mình loi ngoi.
Láng giềng có kẻ sang chơi,
Thương tình mới rủ mọi người giúp không.
Xây lầu, hồ nước, vườn bông,
Muối dưa sá quản miễn lòng thảo thơm.
Ba người ăn một bát cơm,
Bốn người ăn đĩa mắm thơm muối cà.
Bát đĩa em đã dọn ra,
Ba trăm một cái, làm nhà mấy ông ?
Tiếng chàng ăn học đã thông,
Nếu mà đáp trúng, em xin ... theo không chàng về. Kiến Thức Ngày Nay. 1997.
Bài Toán Dân Gian rất hay về mặt văn chương, cũng như về mặt ý thức, không kém câu Ca Dao trên. Bài rất nhí nhảnh buộc người muốn giải phải suy nghĩ nhiều.
(Ý bài toán : Có một số người xây nhà. Cứ ba người ăn một bát cơm và cứ bốn người ăn một đĩa mắm. Số bát đĩa cả thảy là 301 cái. Hỏi có tất cả mấy người xây nhà).
(Đáp : 516 người).
Một câu Đố Ca Dao :
Hai anh mà ở hai buồng,Một câu Thơ Toán :
Không ai hỏi đến, ra tuồng cấm cung.
Đêm thời đóng cửa gài chông,
Ngày thời mở cửa lại trông ra ngoài. Tục Ngữ - Phong Dao. Nguyễn Văn Ngọc (Mặc Lâm. Yiễm Yiễm Thư Quán. Sàigòn 1967)
(Đáp : Hai con mắt).
Vừa gà vừa chó,Hay :
Bó lại cho tròn.
Ba mươi sáu con,
Một trăm chân chẵn. (Ý bài toán : Gà và chó có tất cả 36 con. Nếu đếm chân gà lẫn chân chó, thì có tất cả là 100 cái. Hỏi có mấy con chó và mấy con gà).
(Đáp : 14 con chó và 22 con gà).
Trâu đứng ăn năm.Hay :
Trâu nằm ăn ba.
Lụm khụm trâu già,
Ba con một bó.
Trăm trâu ăn cỏ.
Trăm bó no nê.
Hỏi đến giảng đề,
Ngô nghê như điếc. Bài toán không khó. 3 ẩn số phải có 3 điều kiện độc lập. Phần nhiều 3 điều kiện độc lập được dựng bởi 3 phương trình độc lập. Cái " Ngô nghê như điếc " ở đây là chỉ có 2 điều độc lập có thể dựng bởi 2 phương trình độc lập, còn điều kiện thứ ba không phải là một phương trình mà là số nguyên dương mà nhiều người không để ý đến.
(Ý bài toán : Có một trăm con trâu ăn hết một trăm bó cỏ. Mỗi con trâu đứng ăn đưọc năm bó. Mỗi con trâu nằm ăn được ba bó và ba con trâu già thì chia nhau chỉ ăn đưọc một bó. Hỏi có bao nhiêu con trâu đứng, bao nhiêu con trâu nằm và bao nhiêu con trâu già).
(Đáp : 4 trâu đứng, 18 trâu nằm, 78 trâu già; hay 8 trâu đứng, 11 trâu nằm, 81 trâu già; hay 12 trâu đứng, 4 trâu nằm, 84 trâu già ).
Mùa xuân nghe tiếng trống thì thùng,Đôi khi còn có Thơ Toán Dân Gian bằng chữ Hán, như giai thoại sứ Việt giải toán vua Trung Quốc :
Người ùa vây kín cả đình đông.
Tranh nhau đánh đấm đòi mâm lớn,
Tiên chỉ hò la để chỗ ông.
Bốn người một cỗ thừa một cỗ,
Ba người một cỗ bốn người không.
Ngoài đình chè chén bao người nhỉ,
Tính thử xem rằng có mấy ông ? Nguyễn Trọng Báu - (Giai thoại chữ và nghĩa).
(Ý bài toán : Đề bài thơ đã rõ).
(Đáp : 40 người).
一 隻 一 隻 又 一 隻
三 四 ,五 六 ,七 八 隻
鳳 凰 何 少 鳥 何 多
食 盡 人 間 千 萬 石 Nhất chích, nhất chích hựu nhất chích
Tam tứ, ngũ lục, thất bát chích
Phượng hoàng hà thiểu, điểu hà đa
Thực tận nhân gian thiên vạn thạch.
Một con, một con, lại một con
Ba bốn, năm sáu, bảy tám con
Phượng Hoàng sao ít, Sẻ sao nhiều
Ăn của nhân gian nghìn vạn hộc.
Nguyễn Trọng Báu - (Giai thoại chữ và nghĩa).
(Ý bài toán : Có một bức tranh thêu 100 chim Sẻ và một con Phượng Hoàng. Vua Trung Quốc truyền Sứ Việt đặt toán ra mà tính cho được số 100 chim Sẻ và 1 Phượng Hoàng).
(Đáp : 1 + 1 + 1 = 3; (3 x 4) + (5 x 6) + (7 x 8 ) = 98; 3 + 98 = 101; 100 chim Sẻ và 1 Phượng Hoàng).
Hay bài giai thoại " Điểm Binh của Tôn Tử " :
三 人 同 行 七 十 嬉Đây chỉ là một vài bài Thơ Toán Dân Gian, tất nhiên còn cả hàng trăm hàng ngàn bài khác. Ngoài ra còn có những người dùng danh từ Toán Học để làm thơ. Trong những bài dưới đây, tôi viết đậm những danh từ Toán Học để nhận thấy rõ ràng.
五 樹 梅 花 廿 一 枝
七 子 桃 園 秋 半 月
共 除 百 零 五 定 為 其 Tam nhân đồng hành thất thập hy,
Ngũ thụ mai hoa trấp nhất chi,
Thất tử đào viên thu bán nguyệt,
Cọng (cộng) trừ bách linh ngũ, định vi kỳ.
Tạm dịch :
Ba người cùng đi đường, thì vui gấp bảy mươi lần,
Năm cây hoa Mai có hai mươi mốt nhánh,
Bảy chàng dạo chơi vườn Đào vào giữa tháng của mùa Thu,
Thêm hay bớt một trăm lẻ năm để định đáp số.
Tôi để hai chữ " Tôn Tử " trong dấu ngoặc kép, vì tôi không có tài liệu nào trong tay để quyết đoán bài thơ " Điểm Binh " trên là của Tôn Tử.
(Ý bài nầy là " Tôn Tử " biết chừng chừng số binh của mình. Muốn biết số binh chính xác, thì :
- Làm dấu hiệu thứ nhất - như phất một lần cây cờ - thì cứ 3 người lính đứng lại thành một nhóm, số lính còn lại không lập được một nhóm là 0, 1 hoặc 2 người ; số nầy sẽ nhân với 70.
- Làm dấu hiệu thứ hai, thì cứ 5 người lính đứng lại thành một nhóm, số lính còn lại không lập được một nhóm là 0, 1, 2, 3 hoặc 4 người ; số nầy sẽ nhân cho 21.
- Làm dấu hiệu thứ ba, thì cứ 7 người lính đứng lại thành một nhóm, số lính còn lại không lập được một nhóm là 0, 1, 2, 3, 4, 5 hoặc 6 người ; số nầy sẽ nhân cho 15.
Cọng tất cả 3 số vừa được nhân ở trên, và nếu cần thì cọng thêm, hoặc trừ ra 105, để được số binh chính xác.).
Ví dụ : Số binh là 437, và " Tôn Tử " biết chừng chừng là khoảng 400.
- Nếu sắp 3 người thành một nhóm, thì lẻ ra 2 người,
- Nếu sắp 5 người thành một nhóm, thì lẻ ra 2 người,
- Nếu sắp 7 người thành một nhóm, thì lẻ ra 3 người.
Và : (2 x 70) + (2 x 21) + (3 x 15) + 105 + 105 = (140 + 42 + 45) + 210 = 227 + 210 = 437.
Cái hay ở đây là chỉ dùng có 3 động tác đơn sơ và chỉ trong vài ba phút mà " Tôn Tử " đã biết được số binh chính xác của mình.
Chuyện bài toán trên là Phép Chia Euclide (1) về Số Học trong Tập Hợp Số Nguyên Z. Vậy ta có thể thay những số 3, 5, 7; 70, 21, 15; 105, trên, bằng những nhóm số khác như 2, 3, 5; 15, 10, 6; 30; hay 3, 5, 11; 55, 66, 45; 165 ; vân vân, nhưng theo tôi nhóm số 3, 5, 7; 70, 21, 15; 105 trên vẫn đơn giản hơn nhiều.
Ví dụ với nhóm số 2, 3, 5; 15, 10, 6; 30 :
Cũng lấy số binh trên 437.
- Nếu xếp 2 người thành một nhóm, thì lẻ ra 1 người,
- Nếu xếp 3 người thành một nhóm, thì lẻ ra 2 người,
- Nếu xếp 5 người thành một nhóm, thì lẻ ra 2 người.
Và (1 x 15) + (2 x 10) + (2 x 6) + (13 x 30) = (15 + 20 + 12) + 390 = 47 + 390 = 437.
Ở đây 47 phải cọng thêm 13 lần 30, (13 x 30 = 390).
Và bài thơ " Điểm Binh " có thể như sau (do tôi dựa vào bài trên mà đặt ra) :
Song phi đồng hành thập ngũ hy,
Tam thụ mai hoa hữu thập chi,
Ngũ tử đào viên du lục nguyệt,
Cọng, trừ tam thập định vi kỳ.
Dịch :
Vợ chồng cùng đi với nhau, thì vui mười lăm lần hơn,
Ba cây hoa Mai có mười nhánh,
Năm chàng dạo chơi vườn Đào vào tháng sáu,
Thêm hay bớt ba mươi để định đáp số.
Hay với nhóm số 3, 5, 11; 55, 66, 45; 165 :
Cũng lấy số binh trên 437.
- Nếu xếp 3 người thành một nhóm, thì lẻ ra 2 người,
- Nếu xếp 5 người thành một nhóm, thì lẻ ra 2 người,
- Nếu xếp 11 người thành một nhóm, thì lẻ ra 8 người.
Và (2 x 55) + (2 x 66) + (8 x 45) - 165 = (110 + 132 + 360) - 165 = 602 - 165 = 437.
Ở đây, nếu phải xếp 11 người thành một nhóm, e khó khăn cho binh sĩ nhiều, vì 11 người là một số khá lớn. Cũng vì thế mà nhóm số 3, 5, 7; 70, 21, 15; 105 là đơn giản nhất.
Nếu bài " Điểm Binh của Tôn Tử " đã có từ thời Tôn Tử, khoảng năm 550 trước Công Nguyên, thì trình độ Toán Học của người xua quả đã là cao lắm.
(1) : Theo một số nhà Toán Học hiện đại Euclide (Εὐκλείδη) la? tên một nhóm Toán Học gia ở Alexandrie, vào khoảng năm 300 trước Công Nguyên, cũng như Nicolas Bourbaki là tên của nhóm Toán Học gia nguời Pháp lập tại Besse-et-Saint-Anastaise (Besse-en-Chandesse) vào năm 1935.
Ở trên mạng internet có rất nhiều, như :
Phương trình nào đưa ta về chung lốiChuyện là có một đàn anh tên " Khiết " (có lẽ là bút hiệu) học cùng trường đã " si " một " O " cùng lớp tên " Cầm " (Cầm 琴 nghĩa là Đàn trong tiếng Việt) đã dùng danh từ Toán Học làm bài thơ rất trữ tình :
Định lý nào sao vẫn mãi ngăn đôi
Biến số yêu nên tình mãi hai nơi
Điểm vô cực làm sao ta gặp được
.... Vô danh, tìm được trên mạng Internet.
Tình Toán Pháp Hởi Đàn (1) ơi ! quỹ tích của âm thanh,Hay một bài khác
Thuở song song trong khung cảnh bình hành (2),
Trong không gian đồng quy âu yếm hẹn.
Hai ta là một đẳng thức e thẹn,
Sống bên nhau hai vế một phương trình,
Đợi ngày anh sung sướng chứng minh,
Anh nhớ em muôn đời làm định lý.
Phần phản đề, xin em đừng đãng trí (3),
Lại gần đây dù một ép-xi-lon. (epsilon) (4)
Ở bên kia giới hạn anh buồn,
Anh thường liên tục nói luôn,
Số em âm, em ngại gì vô tỷ (5),
Cực (6) lòng anh là một kẻ tình si,
Tim anh rung không biết mấy chu kỳ...
Yết-Khanh (lái lại thành Anh Khiết).
(1) rất tế nhị, không muốn gọi thẳng tên Cầm mà chỉ gọi Đàn, cho khỏi đường đột.
(2) học cùng một lớp.
(3) định lý : " anh nhớ em muôn đời ". Phản đề : " em nhớ anh muôn đời ". Thật là kín đáo.
(4) số vô cùng nhỏ.
(5) mượn danh từ Toán, nhưng ở đây có ý nói không cần tỷ mẩn (e dè từng chi tiết nhỏ) ?
(6) mượn danh từ Toán, nhưng ở đây có nghĩa là khổ tâm.
Tình Hoa Toán Ai định nghĩađược lệ hoa man mát,
Xoay chiều nào cho thuận mới tình ta.
Biên thiên gì để hiểu cảnh bao la,
Để giải đáp phương trình ai vương vấn.
Ở toạ độ, đùng cho hoa chất lớp,
Hảy xoay chiềucho hoa đẹp muôn phương.
Hảy đồng quyôi đôi má màu hường,
Hảy rút gọn đừng triệt tiêu, hoa nhé !
Hoa với tóc là hai đường giao tuyến,
Môi mỉm cười, em vẽ một cung vui.
Đường về xa, vô tận lắm bùi ngùi,
Không gian đấy, thời gian đây chấn động.
Kết hợp lấy để anh đừng vỡ mộng,
Em mơ màng, tung độ biến thiên anh.
Hỗn hợp đi bao giấc mộng an lành,
Tình vô nghiệm là tình hoa bất diệt.
Nùng-Lan.
Các xác đinh công thức tổng quát của dãy số
Tác giả: Nguyễn Tất Thu
Giáo viên THPT BC Lê Hồng Phong.
Tài liệu gồm 46 trang, được tác giả hướng dẫn các bài toán xác định công thức tổng quát của dãy số. Tuyển tập các bài tập, các phương pháp làm.
Chúc các em có thể thành thạo trong việc xác định công thức tổng quát của dãy số.
Tải về : tai lieu ve day so-cach tim cong thuc tong quat
Giáo viên THPT BC Lê Hồng Phong.
Tài liệu gồm 46 trang, được tác giả hướng dẫn các bài toán xác định công thức tổng quát của dãy số. Tuyển tập các bài tập, các phương pháp làm.
Chúc các em có thể thành thạo trong việc xác định công thức tổng quát của dãy số.
Tải về : tai lieu ve day so-cach tim cong thuc tong quat
Giải phương trình bậc 3
I, PHƯƠNG TRÌNH BẬC 3
- Phương trình bậc 3 là 1 trong các dạng của phương bậc lẻ, nó luôn có ít nhất 1 nghiệm và có nhiều nhất là 3 nghiệm
- Phương trình bậc 3 có dạng tổng quát : ax3 + bx2 + cx + d = 0
==> Pt <=> f(x) = x3 + Bx2 + Cx + D = 0
**Có thể phân tích thành nhân tử ==> nghiệm của phương trình
** Phương trình này có tâm đối xứng là điểm uốn của nó I(-b/3a,f(-b/3a)) .Dùng phương pháp đổi trục :
, ta biến đổi thu được 1 phương trình bậc 3 mới : g(X) = X3 + pX +q = 0. Đây là 1 dạng pt có thể giải được :
1, Trường hợp p>0:-Ta có g'(X) = 3X2 + p > 0 => pt có 1 nghiệm
-Áp dụng hằng đẳng thức sau :
a3 + b3 +c3 - 3abc = (a +b +c)(a2 + b2 + c2 - ab - ac - bc).Đặt a=X
=>ta tìm b,c sao thỏa hệ:
Khi đó ta sẽ tìm được nghiệm pt X=a= -(b+c).
* Ta xét 1 ví dụ sau : giải pt : x3 + 3x +1 =0

=> b, c là nghiệm của pt :
( vì b, c có vai trò như nhau)
=>t3=(1+
)/2 =>b =
, c = ![\sqrt[3]{\frac{1-sqrt{5}}{2}](https://lh3.googleusercontent.com/blogger_img_proxy/AEn0k_uiHQyxXGpiiNelICJY1l54UcCBpCarHbYod2eGPHL8bzQKC4fk_2y4xu_heqDC9cPIlMurtWu5qJsbg0LVJhgFLZW-3_-ToQZgtieg-HTsZ8kYlyPew5DjkjTAQv-sTAUcPbZfocicBRqVix9XL7Qsdj7VU6kUu42BHw=s0-d)
=>x = -(b+c) = -
+
)
2, Trường hợp p<0 : Cách 1 :
-Ta có thể dùng phương pháp lượng giác hoá như sau: đặt X=2acost, (có thể đặt theo sint) với a>0 , t thuộc [0,
PT <=> 8a3cos3t + 2apcost + q = 0
<=> 2a3(4cos3t + p/a2cost) + q = 0
Tìm a thỏa p/a2 = -3 => a=
2a3cos3t = -q
.
*Qua đó ta thấy điều kiện để áp dụng được cách này là

* Ví dụ : Giải phương trình : x3 - 3x -1 =0
Theo như cách đặt trên thì ta có a=1
=> cos3t= 1/2 => t=20
=> x= 2cos
(đây mới là 1 nghiệm ,với t thuộc khoảng cho trước ta có thể tìm ra các nghiệm còn lại nếu có)
Cách 2 :
- Ta có thể dùng lại cách ở trường hợp 1, song ở cả 2 cách này có trường hợp không chỉ ra được nghiệm thực của bài toán
- Phương trình bậc 3 là 1 trong các dạng của phương bậc lẻ, nó luôn có ít nhất 1 nghiệm và có nhiều nhất là 3 nghiệm
- Phương trình bậc 3 có dạng tổng quát : ax3 + bx2 + cx + d = 0
==> Pt <=> f(x) = x3 + Bx2 + Cx + D = 0
**Có thể phân tích thành nhân tử ==> nghiệm của phương trình
** Phương trình này có tâm đối xứng là điểm uốn của nó I(-b/3a,f(-b/3a)) .Dùng phương pháp đổi trục :
1, Trường hợp p>0:-Ta có g'(X) = 3X2 + p > 0 => pt có 1 nghiệm
-Áp dụng hằng đẳng thức sau :
a3 + b3 +c3 - 3abc = (a +b +c)(a2 + b2 + c2 - ab - ac - bc).Đặt a=X
=>ta tìm b,c sao thỏa hệ:
Khi đó ta sẽ tìm được nghiệm pt X=a= -(b+c).
* Ta xét 1 ví dụ sau : giải pt : x3 + 3x +1 =0
=> b, c là nghiệm của pt :
=>t3=(1+
=>x = -(b+c) = -
2, Trường hợp p<0 : Cách 1 :
-Ta có thể dùng phương pháp lượng giác hoá như sau: đặt X=2acost, (có thể đặt theo sint) với a>0 , t thuộc [0,
<=> 2a3(4cos3t + p/a2cost) + q = 0
Tìm a thỏa p/a2 = -3 => a=
*Qua đó ta thấy điều kiện để áp dụng được cách này là
* Ví dụ : Giải phương trình : x3 - 3x -1 =0
Theo như cách đặt trên thì ta có a=1
=> cos3t= 1/2 => t=20
=> x= 2cos
Cách 2 :
- Ta có thể dùng lại cách ở trường hợp 1, song ở cả 2 cách này có trường hợp không chỉ ra được nghiệm thực của bài toán
Tìm tọa độ của trực tâm
Hỏi: Giúp em tìm tọa độ trực tâm của tam giác ABC có A(1,2) B(-2,0) C(4,1)
Trả lời :
Gọi H(x;y) là trực tâm của tam giác ABC
Ta có : - AH vuông góc với BC
- BH vuông góc với AC
Suy ra: Vecto(AH) . Vecto(BC) = 0 và Vecto(BH) . Vecto(AC) = 0
Suy ra: (x-1;y-2).(6;1) = 0 và ( (x+2;y).(3;1) = 0
Suy ra : 6(x-1) + y-2 = 0 và 3(x+2) + y = 0
Giải hệ phương trình ta được : x=2/9 và y=20/3
Vậy H(2/9 ; 20/3)
Trả lời :
Gọi H(x;y) là trực tâm của tam giác ABC
Ta có : - AH vuông góc với BC
- BH vuông góc với AC
Suy ra: Vecto(AH) . Vecto(BC) = 0 và Vecto(BH) . Vecto(AC) = 0
Suy ra: (x-1;y-2).(6;1) = 0 và ( (x+2;y).(3;1) = 0
Suy ra : 6(x-1) + y-2 = 0 và 3(x+2) + y = 0
Giải hệ phương trình ta được : x=2/9 và y=20/3
Vậy H(2/9 ; 20/3)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



